Loading...
Buy
Sustainability of European food quality schemes: Multi-performance, structure, and governance of PDO, PGI, and organic agri-food systems
Loading...

29 Nguyễn Khắc Nhu, P. Cầu Ông Lãnh, (Q. 1), TP. HCM, Việt Nam

Sustainability of European food quality schemes: Multi-performance, structure, and governance of PDO, PGI, and organic agri-food systems
Loading...

Global Institute for sustainable development and advanced management

Sustainability of European food quality schemes: Multi-performance, structure, and governance of PDO, PGI, and organic agri-food systems

Giá: 

Liên Hệ

Nghiên cứu được Arfini cùng TS. Hoàng Việt và các đồng nghiệp thực hiện vào năm 2019 nhằm đánh giá chính sách chất lượng thực phẩm của EU và Đông Nam Á. Nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá hiệu quả kinh tế, môi trường và xã hội của các chương trình chất lượng thực phẩm này.

Giới thiệu: Tập sách được chỉnh sửa này đánh giá chính sách chất lượng gần đây của EU, tập trung vào cơ cấu, quản trị, thông số kỹ thuật và hoạt động - kinh tế, môi trường và xã hội - của các Chương trình Chất lượng Thực phẩm (FQS) ở Liên minh Châu Âu và Đông Nam Á. Lợi ích dự kiến của FQS bao gồm tạo ra lợi nhuận công bằng cho nông dân và nhà sản xuất, đồng thời cho phép người tiêu dùng đưa ra lựa chọn mua hàng sáng suốt hơn thông qua việc ghi nhãn hiệu quả. Ngoài ra, các nhà hoạch định chính sách hiện coi FQS như một phương tiện đảm bảo không chỉ chất lượng trong sản xuất thực phẩm mà còn cả tính bền vững.

Kết quả: Bất chấp những lợi ích tiềm năng này, hiệu quả kinh tế của FQS (ví dụ PDO, PGI, hữu cơ) vẫn có nhiều biến đổi. Trong khi một số hỗ trợ sản xuất có giá trị gia tăng đáng kể, mang lại lợi ích đáng kể cho nhà sản xuất, người tiêu dùng và nền kinh tế rộng hơn, nhiều quốc gia khác đã không thể trở nên bền vững về mặt kinh tế. Ngoài ra, hiệu quả môi trường và xã hội của FQS phần lớn vẫn chưa được kiểm tra, ngoại trừ hiệu quả môi trường của các sản phẩm hữu cơ.

Các biên tập viên xem xét những khác biệt này và đưa ra đánh giá sắc thái về hiệu quả của các chính sách đó. Một số tính năng độc đáo làm cho cuốn sách này trở thành nguồn tài nguyên quan trọng cho những ai quan tâm đến FQS và tính bền vững của các sản phẩm thực phẩm. Các biên tập viên cung cấp mô tả ngắn gọn về chuỗi giá trị, quản trị và thông số kỹ thuật của 27 FQS ở Châu Âu và Đông Nam Á. Các biên tập viên cũng đưa ra đánh giá tính bền vững của từng FQS này và ủng hộ hoặc đặt câu hỏi về quan điểm cho rằng FQS đang chuyển từ “chất lượng” sang “bền vững”. Cuối cùng, ổ đĩa đóng vai trò là kho lưu trữ dữ liệu chính trên các FQS này. Người đọc có quyền truy cập vào dữ liệu thô cần thiết để tính toán các chỉ số được sử dụng trong đánh giá tính bền vững (ví dụ: giá trị gia tăng, số lượng việc làm, số lượng phân bón, v.v.), cho phép họ tiến hành phân tích lại mới.

Cuốn sách này được thiết kế dành cho đối tượng độc giả liên ngành gồm các học giả, nhà hoạch định chính sách và các bên liên quan. Việc biên soạn các nghiên cứu trường hợp FQS làm cho nó trở thành tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu và sinh viên về chính sách lương thực, địa lý, nhân chủng học thực phẩm, phát triển địa phương và nông thôn, hệ thống nông nghiệp thực phẩm địa phương và chuỗi nông sản thực phẩm. Các bên liên quan như cơ quan quản lý quốc gia và châu Âu, các đơn vị chịu trách nhiệm về thông số kỹ thuật của FQS và nhân viên đại sứ quán cũng sẽ tìm thấy thông tin liên quan. Ngoài ra, các cá nhân giúp thực hiện các chương trình chất lượng thực phẩm, bao gồm kiểm toán viên, nhà sản xuất và cộng tác viên người tiêu dùng cũng như các bên liên quan về tính bền vững của sản phẩm thực phẩm, bao gồm nông dân, hiệp hội nông dân và các tổ chức phi chính phủ về môi trường, cũng sẽ tìm thấy thông tin phù hợp và quan trọng đối với họ.


Tìm hiểu thêm:

Arfini, F., & Bellassen, V. (Eds.). (2019). Sustainability of European food quality schemes: Multi-performance, structure, and governance of PDO, PGI, and organic agri-food systems. Springer Nature.

Chia sẻ:

  • Chia sẻ qua viber bài: Sustainability of European food quality schemes: Multi-performance, structure, and governance of PDO, PGI, and organic agri-food systems

Đăng ký thông tin

THÀNH QUẢ NGHIÊN CỨU

THÀNH QUẢ NGHIÊN CỨU

Loading...

Nghiên cứu phát triển mô hình chuẩn đối sánh (benchmarking) đo lường hiệu suất hoạt động: phân tích trường hợp các doanh nghiệp Việt Nam

Các chương trình chất lượng thực phẩm và phí bảo hiểm giá ròng có đi cùng nhau không?

Phân tích chuỗi giá trị và đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành Bưởi Da Xanh tại Bến Tre, Việt Nam

Nâng cao trải nghiệm khách hàng với chatbot vận hành bởi trí tuệ nhân tạo (AI): vai trò của chất lượng dịch vụ, trí tuệ cảm xúc và sự cá nhân hóa của thuật toán

các thành quả nghiên cứu khác

Nghiên cứu phát triển mô hình chuẩn đối sánh (benchmarking) đo lường hiệu suất hoạt động: phân tích trường hợp các doanh nghiệp Việt Nam

Nghiên cứu được thực hiện bởi TS. Hoàng Văn Việt vào năm 2023 - Trưởng nhóm nghiên cứu mạnh FARE (Kinh tế Thực phẩm, Nông nghiệp và Nông thôn) - Nhà sáng lập của GISA.

Các chương trình chất lượng thực phẩm và phí bảo hiểm giá ròng có đi cùng nhau không?

Nghiên cứu được Monier-Dilhan thực hiện cùng TS. Hoàng Việt và cộng sự vào năm 2020 nhằm tiếp cận vấn đề lợi nhuận của sản phẩm thuộc Chương trình Chất lượng Thực phẩm (FQS) so với sản phẩm tham chiếu.

Phân tích chuỗi giá trị và đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành Bưởi Da Xanh tại Bến Tre, Việt Nam

Nghiên cứu được thực hiện bởi TS. Hoàng Văn Việt vào năm 2015 - Trưởng nhóm nghiên cứu mạnh FARE (Kinh tế Thực phẩm, Nông nghiệp và Nông thôn) - Nhà sáng lập của GISA.

Nâng cao trải nghiệm khách hàng với chatbot vận hành bởi trí tuệ nhân tạo (AI): vai trò của chất lượng dịch vụ, trí tuệ cảm xúc và sự cá nhân hóa của thuật toán

Nghiên cứu được thực hiện bởi trợ lý nghiên cứu Nguyễn Minh Khôi - thành viên chính thức tại GISA và cộng sự nhằm phân tích việc tích hợp AI trong các dịch vụ thương mại và chatbot có thể có tác động và cải thiện trải nghiệm của khách hàng như thế nào.

Nghiên cứu khám phá động lực và rào cản đối với hành vi tiêu dùng sữa bền vững tại Việt Nam: Ứng dụng mô hình quản trị COM-B

Nghiên cứu được thực hiện bởi TS. Hoàng Văn Việt - Trưởng nhóm nghiên cứu mạnh FARE (Kinh tế Thực phẩm, Nông nghiệp và Nông thôn) - Nhà sáng lập của GISA, và cộng sự nhằm nâng cao hành vi tiêu dùng thực phẩm bền vững tại Việt Nam. 

Nghiên cứu sự sẵn sàng trả tiền đối với nhãn thực phẩm phúc lợi động vật: Ứng dụng phương pháp thí nghiệm lựa chọn

Nghiên cứu được thực hiện bởi TS. Matthew Gorton - Đối tác nghiên cứu của GISA - Giáo sư Đại Học Newcastle UK và cộng sự nhằm tìm hiểu tác động của nhãn thực phẩm phúc lợi động vật (RSPCA Assured và Red Tractor), các chiến dịch tiếp thị liên quan đến mục đích và giá cả đối với mức độ sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng.

Lợi thế so sánh của các loại cây trồng thay thế: Nghiên cứu so sánh ở Bến Tre, Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam

Nghiên cứu được thực hiện bởi TS. Hoàng Văn Việt và cộng sự vào năm 2019 - Trưởng nhóm nghiên cứu mạnh FARE (Kinh tế Thực phẩm, Nông nghiệp và Nông thôn) - Nhà sáng lập của GISA.

Năng lực cạnh tranh nông nghiệp của Việt Nam theo các chỉ số RCA và NRCA và tính nhất quán của các chỉ số năng lực cạnh tranh

Nghiên cứu được thực hiện bởi TS. Hoàng Văn Việt và cộng sự năm 2017 - Giảng viên Đại Học Kinh Tế Thành phố Hồ Chí Minh - Trưởng nhóm nghiên cứu mạnh FARE (Kinh tế Thực phẩm, Nông nghiệp và Nông thôn) - Nhà sáng lập của GISA.

Sustainability of European food quality schemes: Multi-performance, structure, and governance of PDO, PGI, and organic agri-food systems

Nghiên cứu được Arfini cùng TS. Hoàng Việt và các đồng nghiệp thực hiện vào năm 2019 nhằm đánh giá chính sách chất lượng thực phẩm của EU và Đông Nam Á. Nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá hiệu quả kinh tế, môi trường và xã hội của các chương trình chất lượng thực phẩm này.

Đo lường tính Bền vững về Kinh tế, Môi trường và Xã hội của Chuỗi cung ứng thực phẩm ngắn hạn

Nghiên cứu được Malak-Rawlikowska cùng với TS. Hoàng Việt và cộng sự thực hiện vào năm 2019 nhằm đánh giá tính bền vững của hệ thống phân phối thực phẩm. Nghiên cứu so sánh chuỗi cung ứng thực phẩm ngắn và dài dựa trên các chỉ số kinh tế, xã hội và môi trường.

Động lực của thương mại nội ngành nông nghiệp: Một nghiên cứu điển hình toàn diện ở Việt Nam

Nghiên cứu được thực hiện bởi TS. Hoàng Văn Việt vào năm 2019 - Trưởng nhóm nghiên cứu mạnh FARE (Kinh tế Thực phẩm, Nông nghiệp và Nông thôn) - Nhà sáng lập của GISA.

Nghiên cứu sự phát triển của chuyên môn hóa thương mại nông nghiệp ở các nền kinh tế chuyển đổi: Nghiên cứu trường hợp từ Việt Nam

Nghiên cứu được thực hiện bởi TS. Hoàng Văn Việt vào năm 2019 - Trưởng nhóm nghiên cứu mạnh FARE (Kinh tế Thực phẩm, Nông nghiệp và Nông thôn) và là Nhà sáng lập của GISA.

Nghiên cứu chuỗi giá trị bưởi da xanh Bến Tre tại Việt Nam

Nghiên cứu được thực hiện bởi TS. Hoàng Văn Việt vào năm 2016 - Trưởng nhóm nghiên cứu mạnh FARE (Kinh tế Thực phẩm, Nông nghiệp và Nông thôn) - Nhà sáng lập GISA. Nghiên cứu nhằm phân tích hiện trạng hoạt động của chuỗi giá trị và thị trường tiêu thụ bưởi Da xanh.

Chuỗi cung ứng thực phẩm ngắn hạn: Động lực bền vững và bình đẳng cho tương lai

Nghiên cứu được thực hiện bởi TS. Hoàng Văn Việt - Trưởng nhóm nghiên cứu mạnh FARE (Kinh tế Thực phẩm, Nông nghiệp và Nông thôn) và là Nhà sáng lập của GISA. Nghiên cứu nhằm đánh giá chuỗi cung ứng thực phẩm ngắn hạn tại Việt Nam.
Buy
Loading...