Loading...
Buy
Các chương trình chất lượng thực phẩm và phí bảo hiểm giá ròng có đi cùng nhau không?
Loading...

29 Nguyễn Khắc Nhu, P. Cầu Ông Lãnh, (Q. 1), TP. HCM, Việt Nam

Các chương trình chất lượng thực phẩm và phí bảo hiểm giá ròng có đi cùng nhau không?
Loading...

Global Institute for sustainable development and advanced management

Các chương trình chất lượng thực phẩm và phí bảo hiểm giá ròng có đi cùng nhau không?

Giá: 

Liên Hệ

Nghiên cứu được Monier-Dilhan thực hiện cùng TS. Hoàng Việt và cộng sự vào năm 2020 nhằm tiếp cận vấn đề lợi nhuận của sản phẩm thuộc Chương trình Chất lượng Thực phẩm (FQS) so với sản phẩm tham chiếu.

Đối tác: Nghiên cứu được Monier-Dilhan thực hiện cùng Tiến sĩ Hoàng Việt và cộng sự vào năm 2020 nhằm tiếp cận vấn đề lợi nhuận của sản phẩm thuộc Chương trình Chất lượng Thực phẩm (FQS) so với sản phẩm tham chiếu.

Tóm tắt: Bài viết này đề cập đến vấn đề lợi nhuận của các sản phẩm thuộc Chương trình Chất lượng Thực phẩm (FQS) so với các sản phẩm tham chiếu, được xác định là các sản phẩm tương tự không có nhãn chất lượng. Chúng tôi tiếp cận câu hỏi này bằng cách tính đến cấp độ của chuỗi giá trị (thượng nguồn, chế biến và hạ nguồn), ngành (thực vật, động vật, hải sản) và loại FQS (PGI, PDO, Hữu cơ). Chúng tôi đã thu thập dữ liệu gốc của một số sản phẩm được sản xuất tại một số quốc gia Châu Âu, cũng như ở Thái Lan và Việt Nam. Có thể so sánh tùy thuộc vào cấp độ chuỗi giá trị, ngành và FQS bằng cách sử dụng hai chỉ số có thể so sánh được: chênh lệch giá và chênh lệch giá ròng (bao gồm chênh lệch chi phí). Đã đạt được các kết luận chính sau: 1) Giá của các sản phẩm FQS cao hơn so với các sản phẩm tham chiếu, bất kể mức độ sản xuất, loại FQS hay ngành; 2) Giá cộng thêm do FQS tạo ra không khác nhau dọc theo chuỗi giá trị, cũng như giữa các ngành (thực vật, động vật hoặc hải sản/cá); 3) Giá cao hơn cho các sản phẩm hữu cơ cao hơn đáng kể so với các sản phẩm PGI và kết luận này đúng ở cấp độ thượng nguồn và chế biến, có tính đến các chi phí liên quan trực tiếp đến sản xuất; 4) Tất cả các sản phẩm hữu cơ và hầu hết các sản phẩm PDO và PGI được phân tích đều được hưởng lợi từ đặc lợi chất lượng tích cực; 5) Ở cấp độ thượng nguồn và cấp độ chế biến, tỷ trọng tương đối của tiêu dùng trung gian trong cơ cấu chi phí đối với các sản phẩm hữu cơ thấp hơn so với các sản phẩm tham khảo.


Tìm hiểu thêm tại:

Monier-Dilhan, S., Poméon, T., Böhm, M., Brečić, R., Csillag, P., Donati, M., ... & Bellassen, V. (2020). Do food quality schemes and net price premiums go together?. Journal of Agricultural & Food Industrial Organization, 19(2), 79-94.

Chia sẻ:

  • Chia sẻ qua viber bài: Các chương trình chất lượng thực phẩm và phí bảo hiểm giá ròng có đi cùng nhau không?

Đăng ký thông tin

THÀNH QUẢ NGHIÊN CỨU

THÀNH QUẢ NGHIÊN CỨU

Loading...

Nghiên cứu phát triển mô hình chuẩn đối sánh (benchmarking) đo lường hiệu suất hoạt động: phân tích trường hợp các doanh nghiệp Việt Nam

Các chương trình chất lượng thực phẩm và phí bảo hiểm giá ròng có đi cùng nhau không?

Phân tích chuỗi giá trị và đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành Bưởi Da Xanh tại Bến Tre, Việt Nam

Nâng cao trải nghiệm khách hàng với chatbot vận hành bởi trí tuệ nhân tạo (AI): vai trò của chất lượng dịch vụ, trí tuệ cảm xúc và sự cá nhân hóa của thuật toán

các thành quả nghiên cứu khác

Nghiên cứu phát triển mô hình chuẩn đối sánh (benchmarking) đo lường hiệu suất hoạt động: phân tích trường hợp các doanh nghiệp Việt Nam

Nghiên cứu được thực hiện bởi TS. Hoàng Văn Việt vào năm 2023 - Trưởng nhóm nghiên cứu mạnh FARE (Kinh tế Thực phẩm, Nông nghiệp và Nông thôn) - Nhà sáng lập của GISA.

Các chương trình chất lượng thực phẩm và phí bảo hiểm giá ròng có đi cùng nhau không?

Nghiên cứu được Monier-Dilhan thực hiện cùng TS. Hoàng Việt và cộng sự vào năm 2020 nhằm tiếp cận vấn đề lợi nhuận của sản phẩm thuộc Chương trình Chất lượng Thực phẩm (FQS) so với sản phẩm tham chiếu.

Phân tích chuỗi giá trị và đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành Bưởi Da Xanh tại Bến Tre, Việt Nam

Nghiên cứu được thực hiện bởi TS. Hoàng Văn Việt vào năm 2015 - Trưởng nhóm nghiên cứu mạnh FARE (Kinh tế Thực phẩm, Nông nghiệp và Nông thôn) - Nhà sáng lập của GISA.

Nâng cao trải nghiệm khách hàng với chatbot vận hành bởi trí tuệ nhân tạo (AI): vai trò của chất lượng dịch vụ, trí tuệ cảm xúc và sự cá nhân hóa của thuật toán

Nghiên cứu được thực hiện bởi trợ lý nghiên cứu Nguyễn Minh Khôi - thành viên chính thức tại GISA và cộng sự nhằm phân tích việc tích hợp AI trong các dịch vụ thương mại và chatbot có thể có tác động và cải thiện trải nghiệm của khách hàng như thế nào.

Nghiên cứu khám phá động lực và rào cản đối với hành vi tiêu dùng sữa bền vững tại Việt Nam: Ứng dụng mô hình quản trị COM-B

Nghiên cứu được thực hiện bởi TS. Hoàng Văn Việt - Trưởng nhóm nghiên cứu mạnh FARE (Kinh tế Thực phẩm, Nông nghiệp và Nông thôn) - Nhà sáng lập của GISA, và cộng sự nhằm nâng cao hành vi tiêu dùng thực phẩm bền vững tại Việt Nam. 

Nghiên cứu sự sẵn sàng trả tiền đối với nhãn thực phẩm phúc lợi động vật: Ứng dụng phương pháp thí nghiệm lựa chọn

Nghiên cứu được thực hiện bởi TS. Matthew Gorton - Đối tác nghiên cứu của GISA - Giáo sư Đại Học Newcastle UK và cộng sự nhằm tìm hiểu tác động của nhãn thực phẩm phúc lợi động vật (RSPCA Assured và Red Tractor), các chiến dịch tiếp thị liên quan đến mục đích và giá cả đối với mức độ sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng.

Lợi thế so sánh của các loại cây trồng thay thế: Nghiên cứu so sánh ở Bến Tre, Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam

Nghiên cứu được thực hiện bởi TS. Hoàng Văn Việt và cộng sự vào năm 2019 - Trưởng nhóm nghiên cứu mạnh FARE (Kinh tế Thực phẩm, Nông nghiệp và Nông thôn) - Nhà sáng lập của GISA.

Năng lực cạnh tranh nông nghiệp của Việt Nam theo các chỉ số RCA và NRCA và tính nhất quán của các chỉ số năng lực cạnh tranh

Nghiên cứu được thực hiện bởi TS. Hoàng Văn Việt và cộng sự năm 2017 - Giảng viên Đại Học Kinh Tế Thành phố Hồ Chí Minh - Trưởng nhóm nghiên cứu mạnh FARE (Kinh tế Thực phẩm, Nông nghiệp và Nông thôn) - Nhà sáng lập của GISA.

Sustainability of European food quality schemes: Multi-performance, structure, and governance of PDO, PGI, and organic agri-food systems

Nghiên cứu được Arfini cùng TS. Hoàng Việt và các đồng nghiệp thực hiện vào năm 2019 nhằm đánh giá chính sách chất lượng thực phẩm của EU và Đông Nam Á. Nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá hiệu quả kinh tế, môi trường và xã hội của các chương trình chất lượng thực phẩm này.

Đo lường tính Bền vững về Kinh tế, Môi trường và Xã hội của Chuỗi cung ứng thực phẩm ngắn hạn

Nghiên cứu được Malak-Rawlikowska cùng với TS. Hoàng Việt và cộng sự thực hiện vào năm 2019 nhằm đánh giá tính bền vững của hệ thống phân phối thực phẩm. Nghiên cứu so sánh chuỗi cung ứng thực phẩm ngắn và dài dựa trên các chỉ số kinh tế, xã hội và môi trường.

Động lực của thương mại nội ngành nông nghiệp: Một nghiên cứu điển hình toàn diện ở Việt Nam

Nghiên cứu được thực hiện bởi TS. Hoàng Văn Việt vào năm 2019 - Trưởng nhóm nghiên cứu mạnh FARE (Kinh tế Thực phẩm, Nông nghiệp và Nông thôn) - Nhà sáng lập của GISA.

Nghiên cứu sự phát triển của chuyên môn hóa thương mại nông nghiệp ở các nền kinh tế chuyển đổi: Nghiên cứu trường hợp từ Việt Nam

Nghiên cứu được thực hiện bởi TS. Hoàng Văn Việt vào năm 2019 - Trưởng nhóm nghiên cứu mạnh FARE (Kinh tế Thực phẩm, Nông nghiệp và Nông thôn) và là Nhà sáng lập của GISA.

Nghiên cứu chuỗi giá trị bưởi da xanh Bến Tre tại Việt Nam

Nghiên cứu được thực hiện bởi TS. Hoàng Văn Việt vào năm 2016 - Trưởng nhóm nghiên cứu mạnh FARE (Kinh tế Thực phẩm, Nông nghiệp và Nông thôn) - Nhà sáng lập GISA. Nghiên cứu nhằm phân tích hiện trạng hoạt động của chuỗi giá trị và thị trường tiêu thụ bưởi Da xanh.

Chuỗi cung ứng thực phẩm ngắn hạn: Động lực bền vững và bình đẳng cho tương lai

Nghiên cứu được thực hiện bởi TS. Hoàng Văn Việt - Trưởng nhóm nghiên cứu mạnh FARE (Kinh tế Thực phẩm, Nông nghiệp và Nông thôn) và là Nhà sáng lập của GISA. Nghiên cứu nhằm đánh giá chuỗi cung ứng thực phẩm ngắn hạn tại Việt Nam.
Buy
Loading...